Saturday, August 6, 2011

Bí quyết nhớ công thức lượng giác 2


Một vài mẹo nhỏ giúp chúng ta ghi nhớ công thức.
Tuy nhiên, để nhớ tốt, chúng ta phải thường xuyên ôn luyện, đọc và áp dụng lại công thức.

Xem online và tải về tại đây...

Tuesday, August 2, 2011

Những thiên tài tự học "đỉnh" nhất mọi thời đại

Họ đều có điểm chung là không có điều kiện để được học hành đầy đủ nhưng bằng chính sự đam mê, ham học hỏi đã giúp họ thành công và nổi danh.

1. Michael Faraday (1791–1867) – Thiên tài tự học là chính


Những thiên tài tự học "đỉnh" nhất mọi thời đại

Tên tuổi của Michael Faraday vô cùng nổi danh trên toàn thế giới và được đánh giá là một trong những nhà khoa học có tầm ảnh hưởng lớn nhất mọi thời đại. Nhưng ít ai biết ông không được học hành hay qua trường lớp đào tạo nào cả mà hầu hết kiến thức ông có được đều là do tự tìm tòi khám phá.

Michael Faraday sinh trưởng trong một gia đinh nghèo tại thành phố London vì thế không có điều kiện để được đi học. Thay vào đó, khi mới tròn 14 tuổi, Faraday đã phải đi làm công việc phụ đóng sách tại một tiệm sách trong hơn 7 năm trời. Trong thời gian tại đây, ông bắt đầu đọc những cuốn sách được giao để đóng và tìm thấy sự say mê thích thú dành cho môn khoa học. Ông đã xin làm phụ tá cho một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất London thời bấy giờ, Humphrey Davy, nhưng bị từ chối vì không có một bằng cấp chính quy hay bất kỳ kinh nghiệm thực tế nào.

Tuy nhiên, bằng nỗ lực và cố gắng, ông đã giành được công việc này sau đó và đã thể hiện khả năng xuất sắc của mình với hàng loạt những phát minh được ra đời như động cơ điện, máy phát điện, lò đốt Bunsen cùng những phát hiện quan trọng khác, tạo nên một cuộc cách mạng trong khoa học và ghi danh ông như là một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất trong lịch sử.

Monday, July 4, 2011

Nhà toán học Johannes Kepler

Johannes Kepler (27 tháng 12, 1571 – 15 tháng 11, 1630), một gương mặt quan trọng trong cuộc cách mạng khoa học, là một nhà toán học, nhà chiêm tinh học, nhà thiên văn học, và là một nhà văn ở buổi đầu của những truyện khoa học viễn tưởng người Đức. Ông nổi tiếng nhất về định luật về chuyển động thiên thể, dựa trên những công trình của ông Astronomia nova, Harmonice Mundi và cuốn sách giáo khoa Tóm tắt thiên văn học Copernicus.
Xuyên suốt cuộc đời nghề nghiệp của mình, Kepler là một giáo viên toán ở trường dòng Graz (sau này là trường đại học Graz), là người trợ lý cho Tycho Brahe, là nhà toán học ở triều đình Hoàng đế Rudolf II, giáo viên toán ở Linz, và là nhà thiên văn học của Tướng Wallenstein. Ông cũng thực hiện một công việc mang tính nền tảng về thị giác và giúp đưa vào thực hiện những phát hiện kính thiên văn của người cùng thời với ông là Galileo Galilei.

Thỉnh thoảng ông cũng được coi là "nhà vật lý học thiên thể lý thuyết đầu tiên", mặc dù Carl Sagan cũng coi ông là nhà chiêm tinh học khoa học cuối cùng.

Nhà toán học Cantor

Bố của Georg Cantor, là ông Georg Waldemar Cantor, một nhà buôn thành đạt làm việc tại một đại lý lớn tại St Petersburg, và sau đó làm người môi giới ở Chợ Chứng Khoán St Petersburg. Georg Waldemar Cantor sinh ra tại Đan Mạch, là một người có lòng say mê với văn hóa và nghệ thuật. Mẹ của Georg, bà Maria Anna Böhm sinh ra ở Nga,rất có năng khiếu về âm nhạc. Và dĩ nhiên, Georg có được gen năng khiếu âm nhạc và hội họa từ ba mẹ mình, nổi bật là một tay dương cầm điêu luyện. Georg trở thành một người theo đạo Tin Lành, đó là tôn giáo của cha ông, trong khi mẹ của ông lại là một người theo đạo Kito hữu.

Sau khi được dạy dỗ ở nhà nhờ một gia sư, Cantor theo học tiểu học ở thành phố St Petersburg và năm 1856, khi ông lên 11 tuổi, gia đình ông chuyển sang Đức. Cantor:
"...nghĩ lại lúc còn học ở Nga, với nỗi nhớ da diết và không hề vơi đi khi ông sống ở Đức, mặc dầu ông đã sống ở đây đến hết cuộc đời của mình, song dường như ông chưa bao giờ viết tiếng Nga, ngôn ngữ mà ông nên biết"

Nhà toán học nữ: Sofia Kovalevskaya


Kovalevskaya.jpgKovalevskaya, Sofia Vasilyevna (15/1/1850 - 10/2/1891)
Nơi sinh: Moscow, Nga. Nơi mất : Stockholm, Thụy Điển
Sofia Kovalevskaya là con giữa của viên tướng pháo binh Vasily Korvin-Krukovsky, và Velizaveta Shubert, cả hai đều là những người được giáo dục của giới quý tộc Nga. Sofia được dạy dỗ bởi các gia sư, đầu tiên sống tại Palabino, lãnh địa của Krukovsky, sau đó tại St. Petersburg, và tham gia vào nhóm xã hội của gia đình bà, trong đó có nhà văn Dostoevsky.


Sofia bị sức hấp dẫn của toán học lôi cuốn ngay từ khi còn rất nhỏ. Người chú của cô, Pyotr Vasilievich Krukovsky, một người rất quan tâm đến toán học, đã nói cho cô về những vấn đề của môn toán. Sofia viết trong tự truyện của mình:"ý nghĩa của các khái niệm này đương nhiên tôi không thể hiểu hết được, nhưng chúng đã tác động lên trí tưởng tượng của tôi, truyền cho tôi sự sùng bái toán học như một môn khoa học cao quý và bí hiểm, có thể mở ra một thế giới của những con người kỳ diệu, vô bờ bến."

Nhà toán học Archimedes - Ac si mét

Archimedes là nhà toán học, vật lý học và kỹ sư của Hy Lạp cổ. Mặc dù cuộc đời công còn nhiều điều chưa biết rõ nhưng ông được xem như là một trong những người quan trọng nhất của nền khoa học cổ đại. Ngoài những khám phá về toán học và hình học Archimedes còn nghiên cứu về máy móc.
Các sử gia La Mã cổ đại có hứng thú đặc biệt với Archimedes và đã viết nhiều bản tài liệu về cuộc đời và công việc của ông, trong khi đó các bản sao chép luận án của ông vẫn tồn tại qua thời Trung Cổ và tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ trong thời kỳ Phục Hưng. Công trình đầu tiên của ông được biết tới là phép cộng một chuỗi số vô hạn với phương pháp vẫn còn được sử dụng trong tính toán ngày nay.

Friday, July 1, 2011

FIBONACCI Leonardo, ngưới Ý, 1175-1240

Tên thật là Léonard de Pise, tự Fibonacci (nghĩa là con của Bonaccio”), Leonardo là con của một viên chức Thành Phố Pise. Thương gia và nhà du lịch lớn , Ông đi khắp Châu Âu  và nghiên cứu toán học của thời đại

Trong cuốn Liber Abaci (sách tính toán), in năm 1202, chủ yếu là các phép toán về thương mại, ông giải các bài toán đại số trong tác phẩm toán học của  Al Khwarizmi.

Fibonacci sử dụng nhiều đến các số “arabes” (hệ thống thập phân) tính toán phân số và phương pháp giải các phương trình . Ông cho ấn hành tập hình học, Practica geometriae (1220), trong đó ông dùng phương pháp đại số giải các bài toán hình học và tập các phép toán tìm căn bậc hai,bậc ba (Liber Quadratorum, 1225).

Cuốn Liber Abaci cũng là tuyển tập các bài toán nhỏ nổi tiếng như bài toán nổi tiếng  về sự sinh sản của loài thỏ :

Bước đầu ta có một cặp thỏ, hỏi sau mười hai tháng ta có bao nhiêu cặp thỏ biết rằng mỗi cặp thỏ mỗi tháng sinh ra một cặp thỏ mới kể từ tháng thứ hai khi nó sinh ra

Tuesday, June 28, 2011

Sơ lược lịch sử số học



Các con số và hệ thống đếm


Các hệ đếm cổ (từ thiên niên kỷ III TCN)

Những bảng đất sét Lưỡng Hà tìm thấy ở Sure và Uruk (hiện nay là Warka, Iraq) hoặc muộn hơn nhiều ở Nippur (Babylon, 2200-1350 TCN), cho thấy hệ thống đếm đã được ghi chép lại vào thiên niên kỷ thứ III trước CN. Hệ đếm của người Babylon là một hệ cơ số 60, cách tính thời gian của chúng ta bắt nguồn từ đó. Hồi đó chưa biết tới số không và những đơn vị vắng mặt (thiếu) được biểu thị bằng một chỗ khuyết hoặc hai vạch nhỏ [1].

GIF - 20.6 kb
Các số Babylon trên 1 bảng đất sét

Saturday, June 25, 2011

Phương pháp tính chu vi trái đất của Eratosthène

Năm 332 trước Công nguyên, Alexandre le Grand xâm chiếm Ai cập. Từ đó Ai Cập chịu ảnh hưởng của văn hóa Hy lạp trong ba thế kỷ. Trong thời kỳ đó, Khoa học có nhiều tiến bộ lớn, đặc biệt nhất là ngành Thiên văn  và Toán. Trong số đó, có : Aristarque de Samos:
Ông phát biểu giả thuyết trái đất tròn và chứng minh bằng những nghiên cứu thiên văn (đáng kể nhất là cái bóng hình nón trên mặt trăng trong kỳ nguyệt thực)

Eratosthène.

Giám đốc thư viện Alexandrie năm 236 TCN, nên ông đọc được  tất cả kiến thức của thời ông.

Năm 205 TCN, ông đề nghị một phương pháp thuần túy hình học để tính chu vi trái đất



Eratoshène quan sát  thấy rằng bóng các vật ở những nơi khác nhau thì không giống nhau. Ðặc biệt ông so sánh những bóng  ông đã quan sát giữa hai tỉnh Syène phía Nam và Alexandrie ở phía Bắc trong ngày Hạ chí (một trong hai lần trong một năm khi mặt trời ở xa xích đạo nhất về phía Bắc hoặc phía Nam. Ðiểm chí: Summer solstice: Hạ chí là 21/06 ở Bắc bán cầu. Winter solstice: Ðông chí, tức là ngày 22/12 ở Bắc bán cầu).

Friday, June 24, 2011

Đề thi - Đáp án môn Toán Tuyển sinh lớp 10 Kiên Giang 2011

ĐỀ THI - ĐÁP ÁN TOÁN 2011


Đề thi và đáp án môn Toán thi tuyển sinh vào lớp 10 Kiên Giang năm 2011-2012

Xem online tại đây...

Tải về tại đây...

Saturday, June 18, 2011

Lịch thi tuyển sinh khối 10



  • Ngày 20, 21 tháng 6: học sinh xem danh sách phòng thi.

  • Ngày 22: Thi môn Toán (buổi sáng, tập trung lúc 6 giờ 45)

  • Ngày 23: Thi môn Văn (buổi sáng, tập trung lúc 6 giờ 45)

Saturday, May 28, 2011

Aristoteles (384 – 322 TCN)

Aristoteles (tiếng Hy Lạp: Αριστοτέλης Aristotelēs; phiên âm trong tiếng Việt là Aritstốt; 384 – 322 TCN) là một nhà triết học Hy Lạp cổ đại. Ông được xem là người tạo ra môn luận lí học. Ông cũng thiết lập một phương cách tiếp cận với triết học bắt đầu bằng quan sát và trải nghiệm trước khi đi tới tư duy trừu tượng.


Cuộc đời

Aristoteles sinh tại Thrace gần Macedonia, cha ông là bác sĩ của vua Philip II của Macedonia.

18 tuổi, ông đến Athena để tham gia học viện Academy của Platon.

Năm 335 TCN, Aristoteles mở trường riêng của mình tại Athena, gọi là Lyceum (tên đền thờ thánh Apollo).

Tuesday, May 10, 2011

Polya: Giải bài toán như thế nào?

Giải bài toán như thế nào, how to solve it, polyaG. Polya là một nhà Toán học, nhà sư phạm nổi tiếng người Hungary, nếu bạn là một người quan tâm nhiều đến Toán học cũng như các vấn đề liên quan chắc hẳn bạn đã từng đọc qua hoặc nghe nói đến bộ sách 3 quyển của ông được dịch ra tiếng Việt - Ba trong số những tác phẩm tâm huyết nhất của ông bàn về quá trình giải Toán, sáng tạo, tìm tòi các vấn đề Toán "Giải bài toán như thế nào?", "Sáng tạo Toán học" và "Toán học và những suy luận có lý".

Tuesday, May 3, 2011

Học toán như thế nào? Phần 3: Cách ôn tập để kiểm tra

Trong phần này, ta sẽ trình bày cách sử dụng giáo trình và cách ôn tập để kiểm tra.

Sử dụng giáo trình như thế nào


Sử dụng bảng thuật ngữ và chú giải ở cuối sách (nếu có) đặc biệt là khi bạn quên khái niệm nào đó.

  1. Khi sách đưa ra các ví dụ để minh họa một ý tưởng, hãy phân tích cẩn thận các ý tưởng đằng sau nó thay vì chỉ cố gắng giải các bài tập rập khuôn theo đúng như ví dụ.

Bài đăng nổi bật

Toán 11: Một bài toán tổng vô hạn đoạn thẳng bằng một đoạn thẳng hữu hạn.

 Một bài toán tổng vô hạn đoạn thẳng bằng một đoạn thẳng hữu hạn.

Popular Posts